ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHỤC HÌNH BẰNG HÀM KHUNG TRÊN BỆNH NHÂN MẤT RĂNG KENNEDY I & II

Tóm tắt : Nghiên cứu phục hình bằng hàm khung có sử dụng khớp nối  trên 51 bệnh nhân mất răng Kennedy I và II  cho thấy lứa tuổi trên 50 tuổi chiếm 72,55%, gặp ở nam nhiều hơn nữ, chủ yếu mất răng ở hàm dưới (62.07%), mất răng ở cả hai hàm rất ít chỉ chiếm 13.73%, mất răng KII cao hơn KI, số bệnh nhân mất răng trung bình 4-9 chiếm cao nhất 60,9%, hầu hết các răng trụ không bị tổn thương tổ chức cứng và có tỷ lệ viêm quanh răng ổn định chiếm tỷ lệ cao 53,73%. Khả năng bệnh nhân thích nghi với hàm khung trong thời gian là hai tuần chiếm 92.16%, lưu giữ của hàm khung đạt tỷ lệ tốt ngay sau khi lắp hàm chiếm 96.55%. Hiệu quả ăn nhai  của hàm khung tốt với các loại thức ăn thông thường sau 6 tháng theo dõi đạt 87.50%, trong nghiên cứu của chúng tôi không có  hàm khung thất bại, không có tình trạng xấu đi  ở các nhóm răng trụ sau 6 tháng theo dõi.

SUMMARY:

This study was carried out the removable partial dentures with attachment  in 53 patients mising the tooth as Kennedy I and II  shows that : age over 50 years old accounted for 72.55 % , more male than female, mostly lost lower teeth( 62,07%). Lost the teeth in both jaws at only accouted for 17,73%, the tooth lost class Kennedy II higher than class Kennedy I. The missing tooth overage 4-9 occupied 60,9%, almost remaim tooth do not assesss the hard injured and have inflammation periodontic accounted 53,73% . The ability of patients to adapt to function in the time of two weeks accounted for 92.16%. Keeping the removale partial denture  function well for 96.55%.  The effect of chewing function better with common foods after 6 months of follow-up reached 87.50%, in our study no frame function fails, there is no deterioration in the dental office groups after 6 month follow-up.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Mất răng loại I & II Kennedy là loại mất răng phổ biến nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến chức năng ăn nhai vì không có răng chặn phía sau vùng nên không thể làm cầu. Hàm khung là loại phục hình tháo lắp từng phần có nhiều ưu việt hơn so với hàm giả tháo lắp nhựa. Hàm khung chịu được sức nhai nhiều hơn, truyền lực nhai sinh lý lên răng- chân răng-vùng quanh răng và xương. Vùng cổ răng và vùng lợi viền cổ răng được giải phóng bệnh nhân có cảm giác như nhai trên răng thật. Chính từ những đặc điểm ưu việt này nên hàm khung đã phát triển rộng rãi ở các nước tiên tiến trên thế giới, còn tại Việt Nam hàm khung mới phát triển hơn một thập kỷ qua tuy nhiên các công trình nghiên cứu còn chưa thật nhiều. Tuy nhiên hàm khung cũng còn những vấn đề cần giải quyết như Kennedy I dễ bị lật phía sau, Kennedy II dễ bị lật sang bên. Để khắc phục phần nào các hạn chế trên khi thiết kế khung, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hệ thống khớp nối (attachment) kết hợp với khung. Và hàm khung có kết hợp với khớp nối được coi là tốt nhất trong phục hình tháo lắp. Hệ thống các khớp nối chính xác này bao gồm hai phần đó là phần âm được gắn vào răng trụ và phần dương được gắn vào răng thật. Sự cải tiến này mang lại hiệu quả thẩm mỹ hơn so với răng mang móc thông thường, có thể hấp thu lực đối kháng để bảo vệ răng trụ. Nghiên cứu này hy vọng góp phần mở rộng nâng cao hiệu quả điều trị phục hình hàm khung.

2. MỤC TIÊU

1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng bệnh nhân mất răng  Kennedy I và II.

2. Đánh giá  kết quả điều trị bằng phục hình hàm khung nhóm bệnh nhân mất răng  Kennedy I và II .

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 a. Đối tượng – thời gian - địa điểm nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu: Bệnh nhân từ 18 tuổi đến 70 tuổi mất răng Kenedy I&II cần điều trị phục hình, có chỉ định làm hàm khung[6,10,11,13].

Cỡ mẫu : 58 hàm khung (có 21 hàm mất răng loại Kennedy I và 37 hàm mất loại răng Kennedy II)

Tính theo công thức :

                                         n  =Z2(1- α/2)

Địa điểm: Khoa Phục hình- Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt- trường Đại học Y Hà nội.

                Khoa Răng Hàm Mặt - Bệnh Viện Thanh  Nhàn- Hà Nội

Thời gian : Từ tháng 1/2011 đến tháng 12/2013

b. Phương pháp nghiên cứu

    Nghiên cứu tiến cứu, mô tả lâm sàng, theo dõi kết quả điều trị.

- Đánh giá đặc điểm của mẫu nghiên cứu: tuổi, giới, tình trạng toàn thân, các bệnh răng miệng đã mắc, đánh giá các đặc điểm về, nguyên nhân mất răng, thời gian mất răng, tiền sử đã sử dụng hàm tháo lắp của mẫu bệnh nhân nghiên cứu.

- Khám đánh giá tình trạng răng miệng.

Đánh gía tình trạng vệ sinh răng miệng: Đánh giá theo chỉ số OHI (Oral hygiene index) của Greene vàVermilion, tình trạng viêm lợi.

Đánh giá tình trạng mất răng:Vị trí mất răng, số lượng răng mất, sống hàm vùng mất răng:

Tình trạng răng trụ và các răng còn lại trên cung hàm, đánh giá tình trạng khớp cắn, các yếu tố cản trở (gai xương, lồi rắn), đánh giá hoạt động của khớp thái dương hàm.

- Nghiên cứu mẫu hàm sử dụng song song kế (Thực hiện bởi kỹ thuật viên răng giả):

- Đánh giá kết quả lắp hàm và sự đáp ứng của bệnh nhân: sau khi lắp, 1 tháng và 6 tháng.

- Xử lý số liệu: sử dụng phần mềm SPSS 6.0

4. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

4.1 Đánh giá đặc điểm của mẫu nghiên cứu trước điều trị phục hình

Trong nhóm nghiên cứu có 51 bệnh nhân  mất răng Kennedy loại I và II có chỉ định  làm hàm khung với tổng số là 58 khung. Chúng tôi thấy không có sự khác biệt về giới giữa hai loại mất răng Kennedy I và II với p > 0,05.  Bệnh nhân được chỉ định làm hàm khung ở lứa tuổi > 50 có tỷ lệ cao nhất chiếm 72.55% . Ở lứa tuổi < 34 tuổi chiếm tỷ lệ thấp 3.92% trên tổng số 51 bệnh nhân nghiên cứu cho thấy nhu cầu làm hàm khung ở lứa tuổi trẻ ít hơn ở lứa tuổi >35. Trong đó tuổi của bệnh nhân thấp nhất là 29 tuổi và cao nhất là 76 tuổi,tương tự như với nghiên cứu  của Trần Bình Minh[3].

Nhóm bệnh nhân lứa tuổi >50 có tỷ lệ làm hàm khung là nhiều nhất chiếm 72.55%. Lứa tuổi trên 50 tuổi nguyên nhân mất răng chủ yếu là viêm quanh răng chiếm 56,76%, ở lứa tuổi từ 35-50 là sâu răng chiếm 50%, Trong số những hàm mất răng loại KI số hàm mất răng KI không tiểu loại chiếm tỷ lệ nhiều nhất 66,67%. Tỷ lệ mất trung bình từ 4-9 răng là nhiều nhất chiếm 60.09%.

            Kiểu thanh nối chính hàm trên được sử dụng nhiều nhất là kiểu hình chữ U biến đổi (86,36%). Kiểu thanh nối chính hàm dưới được chỉ định nhiều nhất là thanh lưỡi (47.22%), ít nhất là thanh lưỡi kép (16.67%). Răng trụ có lợi bình thường chiếm tỷ lệ thấp từ 30-33% ở các nhóm răng trụ, tỷ lệ răng trụ viêm quanh răng ổn định chiếm tỷ lệ cao từ 53-55% ở các nhóm răng trụ điều này phù hợp với thực tế vì nhóm bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi ở độ tuổi > 50 tuổi chiếm phần lớn. Tỷ lệ các răng trụ có tổ chức cứng bình thường chiếm 97.58%. Kết quả này khác với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đồng [1] có tỷ lệ răng trụ tốt cao chiếm 84.38%, sở dĩ có sự khác nhau như vậy là do tác giả chọn lựa các răng trụ tốt để đưa vào nghiên cứu còn trong nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên.

Khớp nối được sử dụng chủ yếu là khớp nối Preci Vertix và khớp nối Preci Clix  chiếm tỷ lệ trên 90%. Tựa phụ mặt nhai được tăng cường để bảo vệ cho răng trụ được thiết kế với hầu hết các trường hợp.

 

4.2. Đánh giá kết quả điều trị sau khi dùng hàm khung

  Sau 6 tháng đánh giá  48/51 bệnh nhân quay lại kiểm tra chiếm 94,12% tương ứng với 53 hàm khung.

Nhận xét: Sự lưu giữ của hàm khung ngay sau khi lắp hàm tỷ lệ tốt đạt 96.55%, sau thời gian theo dõi 6 tháng là 94.33%, không có hàm lưu giữu kém sau 6 tháng theo dõi.

Đa số bệnh nhân thích nghi với hàm khung trong vòng hai tuần, đạt tỷ lệ tốt là 92.16%. Không có bệnh nhân nào có thời gian thích nghi với hàm khung trên 4 tuần.Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng với hàm khung là 94.12% . Kết quả nghiên cứu trước đây của Nguyễn Thị Minh Tâm cũng cho kết quả hài lòng cao (74.37%).

Bảng .1 Khả năng ăn nhai của bệnh nhân khi mang hàm khung



Nhận xét: Khả năng ăn nhai : Khi bệnh nhân làm quen được với việc mang hàm khung lúc này đánh giá khả năng ăn nhai sẽ chính xác hơn nên ở thời điểm ngay sau khi lắp  hàm khung chúng tôi chưa đưa ra tiêu chí đánh giá này. Trong nghiên cứu của chúng tôi khả năng ăn nhai tốt của bệnh nhân sau 1 tháng là 86.27%, sau 6 tháng là 87.50%. Không có loại kém và không có bệnh nhân nào không thể ăn nhai được khi mang hàm khung.

Bảng 2 Đánh giá răng trụ sau 6 tháng mang hàm giả.

Nhận xét: Ảnh hưởng của hàm khung lên răng và các tổ chức còn lại: Ảnh hưởng lên răng trụ:100% răng trụ được đánh giá là tốt sau 6 tháng theo dõi. Vì thời gian theo dõi sau khi lắp hàm khung là 6 tháng nên  chưa thấy có sự ảnh hưởng của hàm khung lên răng trụ. Đánh giá chung về tình trạng răng trụ của 58 hàm khung mất răng loại Kennedy I và II sẽ không chính xác bằng đánh giá tình trạng của từng răng trụ vì trên một hàm có nhiều răng trụ có sức khoẻ khác nhau và có thể sẽ bị ảnh hưởng khác nhau bởi hàm khung nên chúng tôi không đánh giá tình trạng chung của các răng trụ  trên một hàm giả. 

Bảng 3. Vùng quanh răng sau 6 tháng lắp hàm so với trước phục hình


Nhận xét : Tỷ lệ vùng quanh răng bình thường trước và sau điều trị  hầu như không có sự thay đổi nhiều chỉ dao động từ 34.48% đến 33.96%. Viêm lợi sau 6 tháng mang hàm tăng nhẹ từ 15.52% đến 18.86%. Viêm quanh răng ổn định giảm so với trước điều trị là do có 3 bệnh nhân không đến kiểm tra lại sau 6 tháng theo dõi . 

Nhận xét:

Ảnh hưởng của hàm khung lên niêm mạc kế cận và sống hàm vùng mất răng: Đây là vấn đề đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu là sự ảnh hưởng của hàm khung với tổ chức răng miệng còn lại. Trên  những bệnh nhân làm hàm khung chúng tôi đã tư vấn rất kỹ về cách sử dụng hàm, các khó khăn thường gặp khi mang hàm lần đầu, kiểm tra lại trong những ngày đầu tiên khi lắp hàm nhằm phát hiện sớm những vùng niêm mạc bị đau do hàm giả để chỉnh sửa. Sau khi lắp hàm khung 1 tháng tỷ lệ hàm khung có điểm nề đỏ trên niêm mạc là 5.17%, sau 6 tháng có hai hàm khung gây điểm nề đỏ trên niêm mạc chiếm 3.77%. Không có hàm khung nào gây loét niêm mạc. Nguyên nhân gây ra điểm nề đỏ trên niêm mạc là do sang chấn khớp cắn gặp trên những hàm khung có sự lưu giữ trung bình. Chỉ số lợi tăng gặp trên những bệnh nhân mất răng hàm dưới và khung được thiết kế là bản lưỡi do tình trạng vệ sinh răng miệng không tốt và khung nối chính che phủ nhiều hơn thanh lưỡi nên dễ gây viêm lợi hơn.

KẾT LUẬN

1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu:

- Không có sự khác biệt về giới giữa hai loại mất răng Kennedy I và II với p > 0,05.  

- Bệnh nhân được chỉ định làm hàm khung ở lứa tuổi > 50 chiếm 72.55% .

- Nhu cầu làm hàm khung ở lứa tuổi trẻ ít hơn ở lứa tuổi >35. Trong đó tuổi của bệnh nhân thấp nhất là 29 tuổi và cao nhất là 76

-  Tỷ lệ mất trung bình từ 4-9 răng  chiếm 60.09%.

- Kiểu thanh nối chính hàm trên hình chữ U biến đổi hay bản khẩu cái kép (86,36%).

- Kiểu thanh nối chính hàm dưới được chỉ định nhiều nhất là thanh lưỡi (47.22%)

-  Tỷ lệ răng trụ viêm quanh răng ổn định chiếm tỷ lệ cao từ 53-55% .

-  Các răng trụ có tổ chức cứng bình thường chiếm 97.58%.

-  Loại khớp nối được thiết kế  nhiều nhất đó là Preci Clix và Preci Vertix (>90%)

2. Đánh giá kết quả điều trị:

- Sự lưu giữ của hàm khung ngay sau khi lắp hàm tỷ lệ tốt đạt 96.55%, sau thời gian theo dõi  6 tháng là 94.33%.

- Sự thích nghi với hàm khung trong vòng hai tuần, đạt tỷ lệ tốt là 92.16%.

- Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng với hàm khung là 94.12% .

- Khả năng ăn nhai tốt của bệnh nhân sau 1 tháng là 86.27%, sau 6 tháng là 87.50%.

- Sau 6 tháng theo dõi sau phục hình chưa thấy có sự ảnh hưởng của hàm khung lên răng trụ.

- Ảnh hưởng của hàm khung lên niêm mạc kế cận và sống hàm vùng mất răng sau 6 tháng không xuất hiện vết loét và điểm nề đỏ trên sống hàm chiếm trên 90%.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt:

1.      Nguyễn Văn Đồng (2004) , Nhận xét ảnh hưởng của móc lên răng trụ, Luận văn thạc sỹ Y khoa , Đại học Y Hà Nội ,tr 44-62.

2.      Phạm Lê Hương (2000),Nghiên cứu so sánh 2 loại phục hình bán phần khung bộ điều trị mất răng Kennedy I, II, Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học RHM, Trường Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, tr.201-210.

3.      Trần Bình Minh(2004),Nhận xét bệnh nhân mất răng lẻ tẻ hàm trên có chỉ định làm hàm khung, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường đại họcY Hà Nội, Hà nội.

4.      Võ Thế Quang (1990), Phẫu thuật trước phục hình, Bài giảng phẫu thuật răng miệng, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, tr.68-73.

5.      Đỗ Quang Trung (2000), Bệnh nha chu, Khoa RHM Đại học Y Hà Nội, tr. 29.

6.      Trần Văn Trường, Lâm Ngọc Ấn (1999), Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc, Nxb Y học, tr.58,

Tiếng Anh:

7.      Ogata K, Shimizu (1991), “Longitudinal study on forces transmitted from denture base to retainners of lower free-end saddle dentures with Akers claps”, J.Oral Rehabit, 18, 471-480.

8.      Ahmad.I.BDS, MSc ;Sherriff M, BSc, PhD(1992), “The effect of reducing the number of clasps on removable partial denture retention”,J Prosthet Dent 68 pp.928-933

9.      Henderson D, and Schward TE (1976), “Design and force distribution with removable partial dentures”. J Prosthet Dent. 17: p 350-364.

10. Kenneth L. Stewart, Kenneth D. Rudd,William A.Kuebker (1996), “Clinical Removable Partial Prosthodontics” (Second Edition).


Th.s Phạm Thái Thông – BV Thanh Nhàn